Bạn đang ở đây

phòng chống tham nhũng

Dự thảo Nghị quyết mới của TAND Tối cao: Cấp dưới “làm theo lệnh” được MIỄN TRUY CỨU HÌNH SỰ nếu đủ 3 điều kiện “vàng” – đột phá hay rủi ro?

Thời gian đọc: 9 Phút
TAND Tối cao đang mở rộng lấy ý kiến đối với Dự thảo sửa Nghị quyết số 03/2020/NQ-HĐTP hướng dẫn áp dụng Bộ luật Hình sự đối với tội phạm tham nhũng và các tội phạm khác về chức vụ, một điểm nhấn mang tính đột phá làm cộng đồng “dậy sóng”: chính sách khoan hồng đặc biệt miễn truy cứu hình sự dành cho “người thực hiện theo chỉ đạo” – đặc biệt là cấp dưới tuân thủ mệnh lệnh cấp trên mà bị vướng vào vòng lao lý.

Vậy: Người phạm tội là cấp dưới được MIỄN HÌNH PHẠT trong trường hợp nào?

  1. Cụ thể, theo Khoản 1 Điều 5 Dự thảo Nghị quyết số 03/2020/NQ-HĐTP hướng dẫn áp dụng Bộ luật Hình sự trong xét xử tội phạm về tham nhũng và tội phạm khác về chức vụ và các quy định việc xử lý tội phạm tham nhũng, tội phạm khác về chức vụ phải bảo đảm nghiêm khắc và tuân thủ triệt để các nguyên tắc của pháp luật hình sự, pháp luật tố tụng hình sự.
  2. Tại Khoản 2 điều 5 Dự thảo nêu, trong quá trình tố tụng, người phạm tội tham ô tài sản, tội nhận hối lộ đã chủ động nộp lại ít nhất ba phần tư tài sản tham ô, nhận hối lộ và đã hợp tác tích cực với cơ quan chức năng trong việc phát hiện, điều tra, xử lý tội phạm hoặc lập công lớn thì không áp dụng mức cao nhất của khung hình phạt đối với người phạm tội.
  1. Đồng thời, tại khoản 3 Điều 5 Dự thảo Nghị quyết nêu: Cơ quan tiến hành tố tụng xem xét áp dụng chính sách khoan hồng đặc biệt miễn hình phạt theo quy định tại Điều 59 Bộ luật Hình sự năm 2015 đối với trường hợp người phạm tội có ít nhất 02 tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 BLHS hoặc người phạm tội lần đầu là người giúp sức trong vụ án đồng phạm nhưng có vai trò không đáng kể nếu thuộc một trong các trường hợp sau:
  1. Người phạm tội không vì động cơ vụ lợi hoặc động cơ cá nhân khác, mà chỉ vì muốn đổi mới, dám đột phá vì sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội và bảo vệ Tổ quốc.
  2. Người phạm tội là người có quan hệ lệ thuộc (như cấp dưới đối với cấp trên, người làm công hưởng lương, chấp hành nhiệm vụ theo chỉ đạo của cấp trên), không ý thức được đầy đủ hành vi phạm tội của mình, không vì động cơ vụ lợi hoặc động cơ cá nhân khác, không được hưởng lợi; đã chủ động khai báo trước khi bị phát giác, tích cực hợp tác với cơ quan có thẩm quyền, góp phần có hiệu quả vào việc điều tra, xử lý tội phạm.
  3. Người phạm tội đã chủ động khai báo trước khi bị phát giác, tích cực hợp tác với cơ quan có thẩm quyền, góp phần hạn chế thiệt hại, chủ động nộp lại toàn bộ tài sản chiếm đoạt, đã khắc phục toàn bộ hậu quả và đã bồi thường toàn bộ thiệt hại do mình gây ra.
  4. Người phạm tội sau khi bị phát hiện đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, chủ động nộp lại toàn bộ tài sản chiếm đoạt, đã khắc phục toàn bộ hậu quả và đã bồi thường toàn bộ thiệt hại do mình gây ra.
 

Theo quy định tại điểm b khoản 3 điều 5 nêu trên, đối với cấp dưới nếu phạm tội trong mối quan hệ lệ thuộc và có hành vi, thái độ hợp tác tích cực sau phạm tội thì có thể được miễn hình phạt. Điều này không phải miễn truy cứu hình sự hoàn toàn mà chỉ miễn hình phạt sau khi đã bị truy cứu, dựa trên đánh giá của Tòa án.

3 điều kiện để được xem xét không truy cứu trách nhiệm hình sự

Đáng chú ý, khoản 4 Điều 5 Dự thảo đề xuất quy định mới hướng dẫn về điều kiện để một người không bị truy cứu trách nhiệm hình sự khi có đủ 3 điều kiện:

  1. Thực hiện hành vi phạm tội nhưng vì mục đích phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh mà không có khiếu nại, tố cáo hoặc đã giải quyết dứt điểm các khiếu nại, tố cáo liên quan theo quy định.
  2. Không tham nhũng, không gây thất thoát, lãng phí tài sản nhà nước, hoặc có gây thất thoát, lãng phí tài sản nhà nước nhưng đã khắc phục toàn bộ hậu quả.
  3. Dự án, công trình có sai phạm đã được hoàn thành, mang lại hiệu quả kinh quả tế - xã hội cho địa phương, đất nước.

Đây là quy định chung, không chỉ dành riêng cho cấp dưới, nhưng có thể áp dụng nếu cấp dưới thực hiện theo lệnh và hành vi đáp ứng các tiêu chí trên. Dự thảo Nghị quyết hướng dẫn áp dụng Bộ luật Hình sự đối với tội phạm tham nhũng và các tội phạm khác về chức vụ, đánh dấu bước tiến mang tính đột phá, nhưng cũng tiềm ẩn rủi ro lạm dụng và khó kiểm soát.

Dự thảo mang tính đột phá

Theo đánh giá của nhiều chuyên gia pháp lý, quy định này được đánh giá là một trong những bước tiến mới trong hệ thống pháp luật hình sự Việt Nam, phù hợp với tinh thần Nghị quyết 18-NQ/TW của Bộ Chính trị về "đổi mới, sáng tạo vì lợi ích quốc gia". Cụ thể, với các quan điểm:

  • Bảo vệ cấp dưới và khuyến khích đổi mới: Trước đây, cấp dưới có thể bị "liên lụy" khi tuân thủ lệnh cấp trên, dẫn đến tâm lý có phần e ngại, trì trệ trong công việc. Quy định miễn hình phạt hoặc không truy cứu nếu không có yếu tố vụ lợi, khuyến khích cấp dưới dám nghĩ, dám làm, dám đột phá trong nhiệm vụ, công việc được phụ trách đặc biệt trong bối cảnh Nhà nước đang triển khai các dự án lớn về phát triển kinh tế - xã hội, văn hóa, giáo dục - quốc phòng…
  • Tích hợp khoan hồng thực tiễn: Kết hợp hài hòa với Điều 59 BLHS (về miễn trách nhiệm hình sự trong trường hợp đặc biệt), dự thảo mở rộng phạm vi khoan hồng cho người “thực hiện theo chỉ đạo”. Điều này mang lại nhiều lợi ích thiết thực:
    • Tập trung nguồn lực xử lý người cầm đầu, chủ mưu, vai trò mấu chốt;
    • Giảm số lượng vụ án tham nhũng nhỏ lẻ, tránh xử lý hình sự tràn lan;
    • Khuyến khích tự nguyện khai báo, hợp tác điều tra, khắc phục tối đa thiệt hại → rút ngắn thời gian giải quyết vụ án, tiết kiệm ngân sách nhà nước.
  • Hỗ trợ phát triển kinh tế: Quy định giảm rủi ro pháp lý cho cả cán bộ công chức và doanh nghiệp tham gia dự án nhà nước, tạo môi trường đầu tư thông thoáng, minh bạch.

Dự thảo mang tính chất chứa đựng rủi ro

Mặc dù dược đánh giá là mang tính đột phá nhưng quy định này theo nhiều chuyên gia cũng chứa đựng một số rủi ro tiềm ẩn, dựa trên pháp lý và thực tiễn công tác phòng, chống tham nhũng ở Việt Nam:

  • Lạm dụng để che đậy tham nhũng: Các điều kiện như "mang lại hiệu quả kinh tế - xã hội" hay "không vụ lợi" có thể bị nhìn nhận một cách chủ quan, phiến diện dẫn đến tình trạng cán bộ cấp cao lợi dụng che giấu thất thoát. Ví dụ, một dự án gây lãng phí ban đầu nhưng sau được "khắc phục" bằng cách bù đắp từ nguồn khác. Điều này tạo kẽ hở pháp lý cho các hành vi tham nhũng có tổ chức, có sự bao che từ cấp cao. Từ đó có thể gây khó khăn cho các Cơ quan tư pháp trong quá trình đấu tranh phòng, chống tội phạm.
  • Khó khăn trong đánh giá và minh bạch:
    • “ Chủ thể nào có thẩm quyền xác định “hiệu quả kinh tế - xã hội”?
      • Cơ quan chuyên ngành? → Dễ thiếu khách quan.
      • Tòa án? → Có thể thiếu chuyên môn đánh giá kinh tế.
      • Hội đồng thẩm định độc lập? → Chưa có quy định cụ thể.
    • Thiếu đi tiêu chí định lượng rõ ràng (như tỷ suất hoàn vốn, lợi ích xã hội đo lường được…). Từ đó dễ dẫn đến xử lý bất nhất giữa các vụ việc, làm suy yếu hiệu quả đấu tranh phòng, chống tham nhũng.
  • Ảnh hưởng đến công bằng pháp lý và lòng tin xã hội: Cấp dưới có thể bị ép tuân lệnh sai trái mà không dám phản đối, hoặc quy định chỉ bảo vệ "cấp dưới" mà không xử lý nghiêm cấp trên, dẫn đến tình trạng "trên bảo dưới không nghe" hoặc ngược lại. Ngoài ra, nếu quy định áp dụng không nhất quán, có thể làm suy giảm lòng tin của nhân dân vào hệ thống tư pháp, đặc biệt khi các vụ tham nhũng lớn thường liên quan lợi ích nhóm.

Cần đánh giá đúng vai trò là lực lượng đi đầu trong PCTN của báo chí

Thời gian đọc: 10 Phút
(Thanh tra)- Để kịp thời ghi nhận và khuyến khích động viên, cổ vũ phong trào đấu tranh PCTN trong giới báo chí, từ năm 2018, Đảng Nhà nước đã phát động và tổ chức Giải Báo chí toàn quốc với công tác đấu tranh PCTN, lãng phí. Nhiều tấm gương sáng và điển hình trong việc phản ánh, đưa tin PCTN đã được vinh danh.

Vụ án đầu tiên về tham nhũng được đăng công khai trên báo chí

Lịch sử còn ghi lại, ngày 5/9/1950 tại thị xã Thái Nguyên - Thủ đô kháng chiến, Tòa án binh Tối cao đã mở phiên tòa đặc biệt, xét xử vụ án đặc biệt. Ba bị cáo bị đưa ra xét xử vì can tội “biển thủ công quỹ, nhận hối lộ, phá hoại công cuộc kháng chiến”, trong đó có nguyên Đại tá, Cục trưởng Cục Quân nhu Trần Dụ Châu.

Vụ án được phát hiện từ bức thư của đồng chí Đoàn Phú Tứ - đại biểu Quốc hội khóa 1 gửi lên Hồ Chủ tịch trong đó viết: “Gần đây, Đại tá Cục trưởng Cục Quân nhu Trần Dụ Châu đã gây nhiều dư luận bất bình trong anh em quân đội. Châu đã dùng quyền lực “ban phát” ăn mặc nên Châu đã giở trò ăn cắp (công quỹ), cứ mỗi cái màn cấp cho bộ đội Châu ăn bớt 2 tấc vải xô, nên cứ ngồi lên là đầu chạm đình màn. Còn áo trấn thủ, Châu ăn cắp bông lót rồi độn bao tải vào, nhiều người biết đấy nhưng không dám ho he. Cháu và 1 đoàn nhà văn đi thăm bộ đội vừa đi chiến đấu trở về, cháu đã khóc nấc lên khi thấy thương binh thiếu thuốc men, bông băng, hầu hết chiến sỹ đều rách rưới, võ vàng (vì) đói rét, chỉ còn mắt với răng mà mùa đông rét buốt ở chiến khu lạnh lắm, lạnh tới mức nước đóng băng. Cháu được Trần Dụ Châu mời dự tiệc cưới của cán bộ dưới quyền tổ chức ngay ở chiến khu”.

Trên những dãy bàn dài tít tắp (bày tiệc cưới) xếp kín chim quay, gà tần, vây bóng, giò chả, nấm hương, thịt bò thui, rượu tây, cốc thủy tinh sáng choang, thuốc lá thơm hảo hạng, hoa Ngọc Hà dưới Hà Nội cũng kịp đưa lên, ban nhạc “Cảnh Thân” được mời từ Khu Ba lên tấu nhạc réo rắt, Trần Dụ Châu mặc quân phục Đại tá cưỡi ngựa hồng, súng lục “côn bát” đến dự và ngạo mạn, mời nhà thơ Đoàn Phú Tứ đọc thơ mừng hôn lễ.

Ông Đoàn Phú Tứ bất bình trước sự việc đã đọc 2 câu thơ: "Bữa tiệc cưới của chúng ta sắp chén đẫy hôm nay/Được dọn bằng xương máu của các chiến sỹ.” Sau khi nhà thơ vừa dứt lời, một vệ sĩ của Châu đã tát vào mặt ông, quát to: “Nói láo”. Nhà thơ bỏ ra ngoài và viết thư tố cáo lên Bác Hồ.

Hồ Chủ tịch đã trao bức thư của nhà thơ cho Thiếu tướng Trần Tử Bình đang là Phó Bí thư Quân ủy Trung ương, Phó Tổng Thanh tra Quân đội. Người nói: “Đây là bức thư của một nhà thơ gửi cho Bác, Bác đã đọc kỹ lá thư và rất đau lòng”, rồi Bác giao cho Thiếu tướng chỉ đạo điều tra làm rõ vụ việc để xử lý.

Công tác thanh tra vụ tiêu cực ở Cục Quân nhu được tiến hành khẩn trương, thu thập đủ tài liệu chứng cứ từ Khu Bốn trở ra, Khu Ba gửi lên. Trần Dụ Châu hiện nguyên hình là một tên gian hùng, trác táng, phản bội lại lòng tin của Đảng, của Bác, quân đội và nhân dân.

Trần Dụ Châu đã bị Tòa án binh Tối cao phạt án “tử hình”, đồng thời bị tước quân hàm Đại tá theo công lệnh của Đại tướng Võ Nguyên Giáp. 2 đồng bọn của Châu, mỗi tên bị phạt án tù 10 năm.

Báo Cứu quốc ngày 27/5/1950 đã đăng bài xã luận viết về vụ án này một cách công khai để nhân dân biết mặc dù có người e ngại nếu công khai vụ án sẽ làm cho dân chúng chê trách, kẻ địch lợi dụng để phản tuyên truyền, lợi ít, hại nhiều.

Báo chí hiện đại tiếp tục góp phần quan trọng trong PCTN

Từ vụ án này có thể khẳng định vai trò của báo chí trong cuộc đấu tranh PCTN đã được khẳng định từ rất sớm và còn nguyên giá trị cho tới ngày hôm nay. Nó cũng khẳng định, khi toàn dân còn đang dốc lòng cho cuộc kháng chiến cứu quốc, khi Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa còn non trẻ, Đảng, Nhà nước ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đặc biệt quan tâm đến công tác đấu tranh, PCTN trong bộ máy chính quyền. Công tác đấu tranh PCTN cũng được quán triệt và triển khai quyết liệt cả trong lực lượng vũ trang lẫn các lĩnh vực của đời sống xã hội.

Điều đặc biệt là trong những năm gần đây, nhờ vào sự huy động tích cực sức mạnh của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân, công tác đấu tranh PCTN đã có nhiều khởi sắc, đạt nhiều thành tích tích cực. Nhiều vụ việc tham nhũng lớn và phức tạp đã được khởi tố, điều tra truy tố và xét xử theo đúng các quy định của Bộ luật Hình sự.
  
Báo cáo tại Phiên họp thứ 18 của Ban Chỉ đạo Trung ương về PCTN, từ năm 2013 đến nay, các cơ quan tiến hành tố tụng Trung ương và địa phương đã khởi tố, điều tra 14.300 vụ/24.410 bị can, xét xử sơ thẩm hơn 11.700 vụ/22.600 bị cáo về tham nhũng, kinh tế, chức vụ. Để đạt được những thành tựu nêu trên, không thể không kể đến vai trò của các cơ quan báo chí trong việc kịp thời phản ánh, đưa tin. Việc kịp thời phản ánh các thông tin liên quan đến công tác PCTN cũng là nhiệm vụ của Đảng, Nhà nước giao cho các cơ quan báo chí và đã được thể chế hóa tại Luật Báo chí 2016, Luật Tố cáo, Luật Phòng, chống tham nhũng…

Không để cá nhân hoặc báo chí đơn độc

Mới đây, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng trong buổi tiếp xúc cử tri tại quận Ba Đình, Hà Nội đã nhấn mạnh: “Vẫn biết đây là cuộc đấu tranh phức tạp, dai dẳng, vô cùng khó khăn trong mỗi con người, trong nội bộ mỗi cơ quan, tổ chức, liên quan đến lợi ích chằng chịt nhưng không thể không làm nếu muốn nhân tố mới thực sự có chỗ đứng, xã hội ngày càng tốt đẹp, niềm tin vào Đảng vững bền. Nhưng để cuộc chiến chống tham nhũng có thể đi đến hồi kết, nếu chỉ một cá nhân hoặc báo chí đơn độc đều không thể có kết quả”. Như vậy, Đảng và Nhà nước đã khẳng định đây là việc làm hết sức khó khăn và phức tạp động chạm đến lợi ích của nhiều cá nhân, lợi ích nhóm.

Do đó, có thể khẳng định trong quá trình tác nghiệp, các nhà báo cũng gặp không ít khó khăn, thử thách. Để các nhà báo đi sâu vào phản ánh vụ việc có dấu hiệu tham nhũng đòi hỏi các nhà báo phải có quan điểm tư tưởng lập trường rõ ràng và vững chắc. Thực tế cho thấy nhiều vụ việc trong quá trình điều tra thu thập các thông tin, nhà báo bị dụ dỗ, mua chuộc… dẫn đến việc không phản ánh, phản ánh không đúng các sự việc tiêu cực hoặc có nhà báo bị đe dọa giết nên gặp nhiều áp lực, dẫn đến công tác đấu tranh PCTN hết sức cam go và khó khăn. Tham nhũng được ví là những “con sâu gặm nhấm” đối với sự nghiệp cách mạng của Đảng và Nhà nước. Vì vậy, việc tăng cường giáo dục tư tưởng đối với những người làm báo là vấn đề đặc biệt quan trọng cấp thiết được đặt ra trong công tác PCTN. Phải làm cho các nhà báo nhận thức, hiểu rõ vai trò, nhiệm vụ của mình khi tham gia trên mặt trận có ý nghĩa sống còn đối với Đảng, Nhà nước.

Mặt khác, hiện nay cơ chế phối hợp giữa cơ quan báo chí truyền thông và các cơ quan tiến hành tố tụng còn nhiều vấn đề. Nguồn tin từ cơ quan báo chí là một trong những nguồn tin để cơ quan tiến hành tố tụng khởi tố vụ án và điều tra. Trên thực tế, quá trình tố tụng hình sự ghi nhận rất hạn chế việc cơ quan báo chí truyền thông kiến nghị khởi tố vụ việc tham nhũng có dấu hiệu hình sự tới các cơ quan tiến hành tố tụng có thẩm quyền. Do đó, cần có cơ chế phối hợp liên thông giữa các cơ quan báo chí và các cơ quan tiến hành tố tụng. Điều đó cho thấy các cơ quan có thẩm quyền cần ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về thẩm quyền và sự phối hợp của nhà báo, cơ quan báo chí với cơ quan tiến hành tố tụng trong công cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm; đặc biệt là việc đấu tranh, PCTN.

Bên cạnh đó, cần phát huy hơn nữa vai trò, tiếng nói của Hội Nhà báo Việt Nam trong việc đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp hội viên khi họ khi bị đe dọa, cản trở quyền tác nghiệp trong quá trình hành nghề. Hội Nhà báo Việt Nam cần quan tâm, hỗ trợ đời sống cá nhân của những nhà báo có hoàn cảnh khó khăn để các nhà báo vững tâm đứng trên mặt trận PCTN.

Chỉ có như vậy báo chí mới phát huy được vai trò là lực lượng tiên phong đi đầu trên mặt trận PCTN! 

Luật sư Nguyễn Hồng Bách

Chủ tịch Công ty Luật Hồng Bách và Cộng sự