Bạn đang ở đây

hành chính

Điều kiện khởi kiện vụ án hành chính theo Luật Tố tụng hành chính 2015 sửa đổi bổ sung năm 2025

Thời gian đọc: 10 Phút
Bài viết này phân tích các điều kiện khởi kiện vụ án hành chính theo quy định của Luật Tố tụng hành chính 2015 sửa đổi bổ sung 2025. Cụ thể, làm rõ các vấn đề quan trọng như quyền khởi kiện của cá nhân, tổ chức; đối tượng khởi kiện trong vụ án hành chính; thời hiệu khởi kiện và thẩm quyền giải quyết của Tòa án.

Quyền khởi kiện
    Quyền khởi kiện là một trong những quyền tố tụng quan trọng của cá nhân, cơ quan, tổ chức khi cho rằng quyết định hành chính hoặc hành vi hành chính đã xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của mình. Pháp luật tố tụng hành chính quy định rõ các trường hợp chủ thể có quyền khởi kiện và điều kiện để thực hiện quyền này. Điều 115 Luật Tố tụng hành chính 2015 sửa đổi bổ sung năm 2025 quy định về chủ thể có quyền khởi kiện bao gồm cơ quan, tổ chức, cá nhân.

Quyền khởi kiện vụ án hành chính của cơ quan, tổ chức, cá nhân
Hình 1. Quyền khởi kiện vụ án hành chính của cơ quan, tổ chức, cá nhân

   Bên cạnh đó, để thực hiện quyền khởi kiện vụ án hành chính, chủ thể khởi kiện phải có năng lực chủ thể tham gia quan hệ pháp luật tố tụng hành chính theo quy định của pháp luật.

  • Đối với cá nhân, người từ đủ 18 tuổi trở lên được xác định là có đầy đủ năng lực hành vi tố tụng hành chính và có thể tự mình thực hiện quyền khởi kiện. Trường hợp cá nhân chưa đủ 18 tuổi hoặc người bị mất năng lực hành vi dân sự thì việc khởi kiện vụ án hành chính phải được thực hiện thông qua người đại diện theo pháp luật.
  • Đối với tổ chức, chủ thể khởi kiện phải là pháp nhân được thành lập hợp pháp theo quy định của pháp luật. Pháp nhân phải có cơ cấu tổ chức chặt chẽ, có tài sản độc lập với cá nhân hoặc tổ chức khác và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản đó, đồng thời có khả năng nhân danh mình tham gia các quan hệ pháp luật độc lập theo quy định của pháp luật.

Đối tượng khởi kiện

   Theo quy định tại Điều 30 Luật Tố tụng hành chính năm 2015 sửa đổi bổ sung 2025, Tòa án có thẩm quyền giải quyết các khiếu kiện hành chính đối với một số loại quyết định và hành vi nhất định. Cụ thể, đối tượng khởi kiện trong vụ án hành chính bao gồm:

  • Khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính
  • Khiếu kiện quyết định kỷ luật buộc thôi việc công chức từ Tổng cục trưởng tương đương và trở xuống
  • Khiếu kiện quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh
  • Khiếu kiện danh sách cử tri

   Việc xác định đúng đối tượng khởi kiện có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định thẩm quyền giải quyết của Tòa án và bảo đảm vụ án hành chính được thụ lý, giải quyết đúng theo quy định của pháp luật.

Khi nào quyết định hành chính và hành vi hành chính trở thành đối tượng khởi kiện?

   Quyết định hành chính trở thành đối tượng khởi kiện khi làm phát sinh, thay đổi, hạn chế, chấm dứt quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân hoặc có nội dung làm phát sinh nghĩa vụ, ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân.

   Khoản 1 Điều 30 Luật tố tụng hành chính quy định về quyết định hành chính không phải đối tượng khởi kiện gồm:

  • Quyết định hành chính, hành vi hành chính thuộc phạm vi bí mật nhà nước trong các lĩnh vực quốc phòng, an ninh, ngoại giao.
  • Quyết định, hành vi của Tòa án trong việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính, xử lý hành vi cản trở hoạt động tố tụng.
  • Quyết định hành chính, hành vi hành chính mang tính nội bộ của cơ quan, tổ chức.

   Hành vi hành chính trở thành đối tượng khởi kiện khi làm ảnh hưởng đến việc thực hiện quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân. Ví dụ hành vi không tiến hành hòa giải tại cơ sở các tranh chấp về đất đai của chủ tịch xã là đối tượng khởi kiện.

Thời hiệu khởi kiện

   Về thời hiệu khởi kiện, khoản 1 Điều 116 của Luật Tố tụng hành chính 2015 sửa đổi bổ sung 2025 quy định thời hiệu khởi kiện vụ án hành chính được xác định tùy theo từng loại quyết định, hành vi bị khiếu kiện. Cụ thể, thời hiệu khởi kiện là:

     a) 01 năm kể từ ngày nhận được hoặc biết được quyết định hành chính, hành vi hành chính, quyết định kỷ luật buộc thôi việc;

     b) 30 ngày kể từ ngày nhận được quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh, quyết định giải quyết khiếu nại trong hoạt động kiểm toán nhà nước;

     c) Từ ngày nhận được thông báo kết quả giải quyết khiếu nại của cơ quan lập danh sách cử tri hoặc kết thúc thời hạn giải quyết khiếu nại mà không nhận được thông báo kết quả giải quyết khiếu nại của cơ quan lập danh sách cử tri đến trước ngày bầu cử 05 ngày.

   Bên cạnh đó, khoản 3 Điều 116 cũng quy định trong trường hợp đương sự đã thực hiện khiếu nại theo đúng quy định của pháp luật thì thời hiệu khởi kiện được tính là 01 năm kể từ ngày nhận được hoặc biết được quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu hoặc lần hai, hoặc 01 năm kể từ ngày hết thời hạn giải quyết khiếu nại theo quy định mà cơ quan, người có thẩm quyền không giải quyết và không có văn bản trả lời cho người khiếu nại.

Sự việc chưa được Tòa án giải quyết bằng bản án có hiệu lực pháp luật

   Một trong những điều kiện quan trọng để Tòa án thụ lý vụ án hành chính là vụ việc khởi kiện chưa được Tòa án giải quyết bằng bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật. Quy định này nhằm bảo đảm tính ổn định của bản án, quyết định của Tòa án và tránh việc cùng một vụ việc bị khởi kiện, xét xử nhiều lần. Điểm d Khoản 1 Điều 123 Luật tố tụng hành chính 2015 sửa đổi bổ sung 2025 quy định thẩm phán trả lại đơn khởi kiện trong trường hợp “sự việc đã được giải quyết bằng bản án hoặc quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật”.

Thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực

   Để bảo đảm việc giải quyết đúng thẩm quyền trong tố tụng hành chính, pháp luật quy định rõ phạm vi thẩm quyền của từng cấp Tòa án. Việc xác định đúng Tòa án có thẩm quyền không chỉ giúp đơn khởi kiện được thụ lý nhanh chóng mà còn tránh tình trạng trả lại đơn hoặc kéo dài thời gian giải quyết vụ án. Theo quy định của Luật Tố tụng hành chính 2015 sửa đổi bổ sung 2025, Tòa án nhân dân khu vực có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm đối với nhiều loại khiếu kiện hành chính trong phạm vi lãnh thổ nhất định. Cụ thể, thẩm quyền của Tòa án nhân dân khu vực được xác định như sau:

. Điều 31 Luật tố tụng hành chính 2015 sửa đổi bổ sung 2025                                                                         quy định thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực
Hình 2. Điều 31 Luật tố tụng hành chính 2015 sửa đổi bổ sung 2025
quy định thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực

Thẩm quyền của Tòa chuyên trách Tòa án nhân dân khu vực

   Bên cạnh việc xác định thẩm quyền của Tòa án theo cấp xét xử và theo lãnh thổ, pháp luật tố tụng hành chính còn quy định thẩm quyền giải quyết của các Tòa chuyên trách trong hệ thống Tòa án nhân dân. Việc phân định thẩm quyền giữa các Tòa chuyên trách nhằm bảo đảm quá trình giải quyết vụ án được thực hiện bởi cơ quan xét xử có chuyên môn phù hợp với tính chất của từng loại khiếu kiện. Theo quy định của Luật Tố tụng hành chính 2015 sửa đổi bổ sung 2025, Tòa Hành chính và Tòa Sở hữu trí tuệ thuộc Tòa án nhân dân khu vực có thẩm quyền giải quyết sơ thẩm đối với một số loại khiếu kiện hành chính nhất định. Cụ thể như sau:

Điều 31a Luật tố tụng hành chính 2015 sửa đổi bổ sung 2025 quy định về Thẩm quyền của Tòa chuyên trách Tòa án nhân dân khu vực
Hình 3.Điều 31a Luật tố tụng hành chính 2015 sửa đổi bổ sung 2025
quy định về Thẩm quyền của Tòa chuyên trách Tòa án nhân dân khu vực

Thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân cấp tỉnh

   Tòa án cấp tỉnh có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục phúc thẩm những vụ án mà bản án, quyết định chưa có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhân dân khu vực bị kháng cáo, kháng nghị; giám đốc thẩm, tái thẩm bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhân dân khu vực nhưng bị kháng nghị theo quy định của Luật này.

   Có thể thấy, việc khởi kiện vụ án hành chính không chỉ phụ thuộc vào việc cá nhân hoặc tổ chức bị ảnh hưởng bởi quyết định hành chính hay hành vi hành chính mà còn phải đáp ứng đầy đủ các điều kiện theo quy định của Luật Tố tụng hành chính 2015 sửa đổi bổ sung 2025. Các điều kiện này bao gồm quyền khởi kiện của chủ thể, xác định đúng đối tượng khởi kiện, bảo đảm thời hiệu khởi kiện và xác định đúng thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Việc nắm rõ các quy định pháp luật liên quan sẽ giúp cá nhân, tổ chức thực hiện quyền khởi kiện một cách đúng đắn, góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình cũng như bảo đảm tính minh bạch trong hoạt động quản lý hành chính nhà nước.

Dựng biển cấm ô tô, xe tải đi vào địa phận, Ủy ban nhân dân xã có thẩm quyền?

Thời gian đọc: 5 Phút
Ủy ban nhân dân cấp xã có thẩm quyền lắp đặt biển báo cấm ô tô, xe tải vào địa phận? Phải làm gì khi Ủy ban nhân dân vượt quá thẩm quyền trong tổ chức giao thông?

Kính chào Luật sư! Tôi thường đi qua một cung đường liên xã, đã 8 năm nay. Gần đây, xã dựng biển báo và barie cấm xe ôtô, xe tải lưu thông để tránh "hỏng đường".

Tôi xin hỏi chính quyền xã có quyền dựng biển báo và barie cấm xe như vậy không? Pháp luật có cấm xe tải trọng nào thì không được đi vào đường làng, xã hay không? Cơ quan nào có quyền dựng biển báo, biển cấm?

Anh em lái xe chúng tôi có thể làm gì để khiếu nại?

Chào bạn! Cảm ơn đã tin tưởng và gửi câu hỏi tới Công ty Luật TNHH Hồng Bách và Cộng sự. Để có thể đưa ra câu trả lời chính xác nhất cho thắc mắc của bạn, Hongbach.vn có ý kiến tư vấn như sau:

Theo quy định pháp luật đường liên xã được coi là đường giao thông nông thôn (đường GTNT). Cụ thể, theo quy định tại Thông tư 32/2014/TT-BGTVT, đường giao thông nông thôn bao gồm các loại đường sau: 

Điều 2. Giải thích từ ngữ

1. Đường giao thông nông thôn (sau đây gọi chung là đường GTNT) bao gồm: đường trục xã, đường liên xã, đường trục thôn; đường trong ngõ xóm và các điểm dân cư tương đương; đường trục chính nội đồng.

Trong quá trình khai thác, vận hành đường GTNT, pháp luật cho phép cơ quan có thẩm quyền được tổ chức giao thông qua hình thức lắp một số biển báo hiệu đường bộ theo quy định. Một trong các biển báo hiệu đường bộ được phép lắp đặt trên đường GTNT là: 

Điều 12. Biển báo hiệu đường bộ và công trình đặc biệt trên đường GTNT:

1. Đối với phần đường bộ cắm các loại biển sau:

c) Trường hợp có quy định cấm đối với loại xe nào thì cắm biển cấm đối với loại xe đó (Ví dụ đoạn đường cần cấm tất cả các loại ô tô tải từ 1,5 T trở lên thi cắm biển “Cấm ô tô tải” (Biển số 106a);

Theo quy định tại Thông tư số 32/2014/TT-BGTVT, Ủy ban nhân dân tỉnh (UBND) cấp tỉnh có thẩm quyền tổ chức phê duyệt hệ thống các biển báo trên đường GTNT. Cụ thể:

Điều 18. Trách nhiệm của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh

1. Trên cơ sở quy định của Thông tư này, ban hành quy định phân công, phân cấp và trách nhiệm về quản lý, vận hành khai thác và tổ chức giao thông trên các tuyến đường GTNT; quy định việc phê duyệt Quy trình quản lý, vận hành khai thác các công trình đặc biệt trên đường GTNT thuộc phạm vi quản lý.

Điều 20. Trách nhiệm của Ủy ban nhân dân cấp xã

1. Tổ chức quản lý, vận hành khai thác và tổ chức giao thông đối với các tuyến đường GTNT theo phân công, phân cấp của Ủy ban nhân dân cấp trên và quy định của pháp luật. 

UBND cấp xã có trách nhiệm tổ chức giao thông đối với tuyến đường GTNT theo chỉ đạo của cấp trên.
Ảnh minh họa: Internet

Như vậy, từ các căn cứ trên, thẩm quyền tổ chức giao thông, cụ thể là phê duyệt biển báo hiệu đường bộ thuộc UBND cấp tỉnh. UBND cấp xã có trách nhiệm tổ chức giao thông đối với tuyến đường GTNT theo phân công, chỉ đạo của cấp trên là UBND cấp tỉnh. GTNT theo phân công, phân cấp của Ủy ban nhân dân cấp trên và quy định của pháp luật.

Việc lắp đặt biển báo giao thông được Luật giao thông vận tải 2008 quy định là một trong những nội dung của hoạt động tổ chức giao thông. Thẩm quyền lắp đặt biển báo do UBND cấp tỉnh hoặc phân công cho UBND cấp dưới thực hiện.

Do đó, việc lắp đặt biển báo hiệu đường bộ trên tuyến đường GTNT chỉ được UBND cấp xã thực hiện khi và chỉ khi có đề án, chỉ đạo của UBND cấp tỉnh. Trong trường hợp UBND cấp  xã tự thực hiện việc lắp biển báo cấm ô tô mà không được UBND cấp tỉnh phê duyệt, cho phép thì đã vượt quá thẩm quyền, sai trình tự, thủ tục luật định. 

Trong trường hợp anh có căn cứ về việc lắp đặt biển báo của UBND cấp xã là vượt quá thẩm quyền, ảnh hưởng trực tiếp đến quyền và lợi ích của bản thân, anh có thể thực hiện khiếu nại lần đầu đến UBND cấp xã, việc giải quyết khiếu nại thuộc thẩm quyền của Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã.

Trên đây là nội dung tư vấn của Hongbach.vn liên quan đến vấn đề pháp lý bạn đang vướng mắc. Nếu còn những vấn đề chưa rõ thì bạn có thể phản hồi cho chúng tôi qua địa chỉ: 

Công ty Luật TNHH Hồng Bách và Cộng sự 
Trụ sở: Số 85 Nguyễn Chí Thanh, phường Láng Hạ quận Đống Đa, Hà Nội
Điện thoại: 024.6299.6666; Fax: 024.62.55.88.66
Web: hongbach.vn; Email: bach@hongbach.vn

Những loại giấy tờ nào không được chứng thực bản sao?

Thời gian đọc: 4 Phút
Pháp luật Việt Nam quy định một số loại giấy tờ không được chứng thực bản sao, người dân cần lưu ý khi thực hiện các thủ tục hành chính.

Những loại giấy tờ nào không được chứng thực bản sao?


Cảm ơn bạn đã quan tâm và gửi câu hỏi tư vấn về Hongbach.vn. Với nội dung câu hỏi của bạn, Luật sư Công ty Luật Hồng Bách có quan điểm tư vấn như sau:

Căn cứ pháp lý     

- Nghị định số 23/2015/NĐ-CP

Chứng thực bản sao từ bản chính là gì?

Theo khoản 2, 5, 6 Điều 2 Nghị định số 23/2015/NĐ-CP ngày 16 tháng 02 năm 2015 của Chính phủ quy định bản chính, bản sao và chứng thực bản sao từ bản chính như sau:

- Chứng thực bản sao từ bản chính là việc cơ quan, tổ chức có thẩm quyền căn cứ vào bản chính để chứng thực bản sao là đúng với bản chính.

- Bản chính là những giấy tờ, văn bản do cơ quan, tổ chức có thẩm quyền cấp lần đầu, cấp lại, cấp khi đăng ký lại; những giấy tờ, văn bản do cá nhân tự lập có xác nhận và đóng dấu của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền.

- Bản sao là bản chụp từ bản chính hoặc bản đánh máy có nội dung đầy đủ, chính xác như nội dung ghi trong sổ gốc.

Giấy tờ, văn bản làm cơ sở để chứng thực bản sao từ bản chính?

Điều 18 Nghị định 23/2015/NĐ-CP Quy định về Giấy tờ, văn bản làm cơ sở để chứng thực bản sao từ bản chính:

1. Bản chính giấy tờ, văn bản do cơ quan, tổ chức có thẩm quyền cấp.

2. Bản chính giấy tờ, văn bản do cá nhân tự lập có xác nhận và đóng dấu của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền.

Chứng thực bản sao từ bản chính là việc cơ quan, tổ chức có thẩm quyền căn cứ vào bản chính để chứng thực bản sao là đúng với bản chính. Ảnh minh họa: Internet.

Các loại giấy tờ nào không được dùng làm cơ sở để chứng thực bản sao?

Điều 22 Nghị định 23/2015/NĐ-CP Quy định Bản chính giấy tờ, văn bản không được dùng làm cơ sở để chứng thực bản sao:

1. Bản chính bị tẩy xóa, sửa chữa, thêm, bớt nội dung không hợp lệ.

2. Bản chính bị hư hỏng, cũ nát, không xác định được nội dung.

3. Bản chính đóng dấu mật của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền hoặc không đóng dấu mật nhưng ghi rõ không được sao chụp.

4. Bản chính có nội dung trái pháp luật, đạo đức xã hội; tuyên truyền, kích động chiến tranh, chống chế độ xã hội chủ nghĩa Việt Nam; xuyên tạc lịch sử của dân tộc Việt Nam; xúc phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân, tổ chức; vi phạm quyền công dân.

5. Bản chính do cơ quan, tổ chức có thẩm quyền của nước ngoài cấp, công chứng hoặc chứng nhận chưa được hợp pháp hóa lãnh sự theo quy định tại Khoản 1 Điều 20 của Nghị định này.

6. Giấy tờ, văn bản do cá nhân tự lập nhưng không có xác nhận và đóng dấu của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền.

Trên đây là nội dung tư vấn của Hongbach.vn liên quan đến vấn đề pháp lý bạn đang vướng mắc, nếu còn những vấn đề chưa rõ thì bạn có thể phản hồi cho chúng tôi qua địa chỉ:

Công ty Luật TNHH Hồng Bách và Cộng sự
Trụ sở: Số 85 Nguyễn Chí Thanh, phường Láng Hạ, quận Đống Đa, Hà Nội
Điện thoại: 024.6299.6666 ; Fax: 024.62.55.88.66
Web: hongbach.vn; Email: bach@hongbach.vn

Thời hạn ban hành Quyết định hành chính là bao nhiêu ngày?

Thời gian đọc: 6 Phút
Theo quy định của pháp luật thì trong thời hạn bao nhiêu ngày kể ngày lập biên bản vi phạm hành chính thì cơ quan có thẩm quyền phải ban hành Quyết định xử phạt hành chính?

Câu hỏi: Kính chào luật sư. Tôi có nội dung vướng mắc pháp lý như sau, mong nhân được sự hỗ trợ, tư vấn từ luật sư. Nội dung sự việc như sau: Ngày 01/9/2021, cán bộ Đội quản lý thị trường đã đến cơ sở sản xuất của tôi lập Biên bản về việc cơ sở của tôi sản xuất hàng hoá không nhãn mác.

Sau đó, họ có bảo 30 ngày sẽ ban hành Quyết định xử phạt hành chính đối với tôi. Tuy nhiên, đến hẹn họ lại bảo đang xin gia hạn để xác minh thêm về vụ việc của tôi và cho đến nay Đội quản lý thị trường vẫn chưa ban hành Quyết định xử phạt đối với tôi.

Vậy, luật sư cho tôi hỏi Đội quản lý thị trường làm như vậy có đúng không? Xin cảm ơn luật sư!


Trả lời: Chào bạn! Cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi tới Công ty Luật TNHH Hồng Bách và Cộng sự. Để có thể đưa ra câu trả lời chính xác nhất cho thắc mắc của bạn, Luật Hồng Bách có ý kiến tư vấn như sau:

Theo quy định của pháp luật thì trường hợp khi phát hiện hành vi có dấu hiệu vi phạm hành chính, người có thẩm quyền mới chỉ lập biên bản để ghi nhận vụ việc (như biên bản kiểm tra, biên bản làm việc…); sau đó, tiến hành xác minh làm rõ tình tiết vụ việc vi phạm hành chính. Sau khi có kết quả xác minh, người có thẩm quyền mới lập biên bản vi phạm hành chính thì thời hạn gia quyết định xử phạt vi phạm hành chính được tính kể từ ngày lập biên bản vi phạm hành chính.

Trường hợp việc xác minh được thực hiện sau khi lập biên bản vi phạm hành chính làm cơ sở để người có thẩm quyền xem xét, ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính thì thời hạn ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính được thực hiện theo quy định tại khoản 1 điều 66 của Luật xử lý vi phạm hành chính. Theo đó, người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính phải ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong thời hạn 07 ngày, kể từ ngày lập biên bản vi phạm hành chính.

Đối với vụ việc có nhiều tình tiết phức tạp mà không thuộc trường hợp giải trình hoặc đối với vụ việc thuộc trường hợp giải trình theo quy định tại khoản 2 và khoản 3 của điều 61 của Luật xử lý vi phạm hành chính thì thời hạn ra quyết định xử phạt tối đa là 30 ngày, kể từ ngày lập Biên bản vi phạm hành chính.

Trường hợp vụ việc đặc biệt nghiêm trọng, có nhiều tình tiết phức tạp và thuộc trường hợp giải trình theo quy định tại khoản 2 và khoản 3 điều 61 của Luật xử lý vi phạm hành chính mà cần có thêm thời gian để xác minh, thu thập chứng cứ thì người có thẩm quyền đang giải quyết vụ việc phải báo cáo thủ trưởng trực tiếp của mình bằng văn bản để xin gia hạn; việc gia hạn phải bằng văn bản, thời hạn gia hạn không được quá 30 ngày.

+ Đối với trường hợp hồ sơ vụ việc vi phạm hành chính do cơ quan tiến hành tố tụng hình sự chuyển đến mà người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính phải xác minh thêm tình tiết căn cứ ra quyết định xử lý vi phạm hành chính thì thời hạn ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính tối đa không quá 45 ngày kể từ ngày nhận được hồ sơ vụ việc vi phạm để xử phạt hành chính theo quy định tại khoản 3 điều 63 của Luật Xử lý vi phạm hành chính.

Thời hạn ban hành Quyết định hành chính tối đa là 45 ngày kể từ ngày có Biên bản ghi nhận hành vi vi phạm hành chính thì người có thẩm quyền phải ban hành Quyết định xử phạt. - Ảnh minh hoạ (Nguồn Internet)


Như vậy, đối chiếu các quy định nêu trên thì thời hạn ban hành Quyết định hành chính tối đa là 45 ngày kể từ ngày có Biên bản ghi nhận hành vi vi phạm hành chính thì người có thẩm quyền phải ban hành Quyết định xử phạt. Tuy nhiên, trường hợp của bạn đã quá 45 ngày kể từ ngày Đội quản lý thị trường lập Biên bản về hành vi phạm của cơ sở sản xuất của bạn nhưng vẫn chưa ban hành Quyết định xử phạt hành chính là hành vi vi phạm về thời hạn ban hành Quyết định xử phạt.Việc của các cán bộ Đội quản lý thị trường trong việc của bạn không đúng các quy định của pháp luật hành chính.

Trên đây là toàn bộ nội dung tư vấn của Công ty chúng tôi liên quan đến vấn đề pháp lý bạn đang vướng mắc, nếu còn những vấn đề chưa rõ thì bạn có thể phản hồi cho chúng tôi qua địa chỉ: 

Công ty Luật TNHH Hồng Bách và Cộng sự 
Trụ sở: Phòng 403 tầng, số 85 Nguyễn Chí Thanh, phường Láng Hạ quận Đống Đa, thành phố Hà Nội
Điện thoại: 024.6299.6666;  Fax: 024.62.55.88.66
Web: hongbach.vn; Email: bach@hongbach.vn