Điều kiện khởi kiện vụ án hành chính theo Luật Tố tụng hành chính 2015 sửa đổi bổ sung năm 2025
Quyền khởi kiện
Quyền khởi kiện là một trong những quyền tố tụng quan trọng của cá nhân, cơ quan, tổ chức khi cho rằng quyết định hành chính hoặc hành vi hành chính đã xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của mình. Pháp luật tố tụng hành chính quy định rõ các trường hợp chủ thể có quyền khởi kiện và điều kiện để thực hiện quyền này. Điều 115 Luật Tố tụng hành chính 2015 sửa đổi bổ sung năm 2025 quy định về chủ thể có quyền khởi kiện bao gồm cơ quan, tổ chức, cá nhân.
Bên cạnh đó, để thực hiện quyền khởi kiện vụ án hành chính, chủ thể khởi kiện phải có năng lực chủ thể tham gia quan hệ pháp luật tố tụng hành chính theo quy định của pháp luật.
- Đối với cá nhân, người từ đủ 18 tuổi trở lên được xác định là có đầy đủ năng lực hành vi tố tụng hành chính và có thể tự mình thực hiện quyền khởi kiện. Trường hợp cá nhân chưa đủ 18 tuổi hoặc người bị mất năng lực hành vi dân sự thì việc khởi kiện vụ án hành chính phải được thực hiện thông qua người đại diện theo pháp luật.
- Đối với tổ chức, chủ thể khởi kiện phải là pháp nhân được thành lập hợp pháp theo quy định của pháp luật. Pháp nhân phải có cơ cấu tổ chức chặt chẽ, có tài sản độc lập với cá nhân hoặc tổ chức khác và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản đó, đồng thời có khả năng nhân danh mình tham gia các quan hệ pháp luật độc lập theo quy định của pháp luật.
Đối tượng khởi kiện
Theo quy định tại Điều 30 Luật Tố tụng hành chính năm 2015 sửa đổi bổ sung 2025, Tòa án có thẩm quyền giải quyết các khiếu kiện hành chính đối với một số loại quyết định và hành vi nhất định. Cụ thể, đối tượng khởi kiện trong vụ án hành chính bao gồm:
- Khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính
- Khiếu kiện quyết định kỷ luật buộc thôi việc công chức từ Tổng cục trưởng tương đương và trở xuống
- Khiếu kiện quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh
- Khiếu kiện danh sách cử tri
Việc xác định đúng đối tượng khởi kiện có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định thẩm quyền giải quyết của Tòa án và bảo đảm vụ án hành chính được thụ lý, giải quyết đúng theo quy định của pháp luật.
Khi nào quyết định hành chính và hành vi hành chính trở thành đối tượng khởi kiện?
Quyết định hành chính trở thành đối tượng khởi kiện khi làm phát sinh, thay đổi, hạn chế, chấm dứt quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân hoặc có nội dung làm phát sinh nghĩa vụ, ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân.
Khoản 1 Điều 30 Luật tố tụng hành chính quy định về quyết định hành chính không phải đối tượng khởi kiện gồm:
- Quyết định hành chính, hành vi hành chính thuộc phạm vi bí mật nhà nước trong các lĩnh vực quốc phòng, an ninh, ngoại giao.
- Quyết định, hành vi của Tòa án trong việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính, xử lý hành vi cản trở hoạt động tố tụng.
- Quyết định hành chính, hành vi hành chính mang tính nội bộ của cơ quan, tổ chức.
Hành vi hành chính trở thành đối tượng khởi kiện khi làm ảnh hưởng đến việc thực hiện quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân. Ví dụ hành vi không tiến hành hòa giải tại cơ sở các tranh chấp về đất đai của chủ tịch xã là đối tượng khởi kiện.
Thời hiệu khởi kiện
Về thời hiệu khởi kiện, khoản 1 Điều 116 của Luật Tố tụng hành chính 2015 sửa đổi bổ sung 2025 quy định thời hiệu khởi kiện vụ án hành chính được xác định tùy theo từng loại quyết định, hành vi bị khiếu kiện. Cụ thể, thời hiệu khởi kiện là:
a) 01 năm kể từ ngày nhận được hoặc biết được quyết định hành chính, hành vi hành chính, quyết định kỷ luật buộc thôi việc;
b) 30 ngày kể từ ngày nhận được quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh, quyết định giải quyết khiếu nại trong hoạt động kiểm toán nhà nước;
c) Từ ngày nhận được thông báo kết quả giải quyết khiếu nại của cơ quan lập danh sách cử tri hoặc kết thúc thời hạn giải quyết khiếu nại mà không nhận được thông báo kết quả giải quyết khiếu nại của cơ quan lập danh sách cử tri đến trước ngày bầu cử 05 ngày.
Bên cạnh đó, khoản 3 Điều 116 cũng quy định trong trường hợp đương sự đã thực hiện khiếu nại theo đúng quy định của pháp luật thì thời hiệu khởi kiện được tính là 01 năm kể từ ngày nhận được hoặc biết được quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu hoặc lần hai, hoặc 01 năm kể từ ngày hết thời hạn giải quyết khiếu nại theo quy định mà cơ quan, người có thẩm quyền không giải quyết và không có văn bản trả lời cho người khiếu nại.
Sự việc chưa được Tòa án giải quyết bằng bản án có hiệu lực pháp luật
Một trong những điều kiện quan trọng để Tòa án thụ lý vụ án hành chính là vụ việc khởi kiện chưa được Tòa án giải quyết bằng bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật. Quy định này nhằm bảo đảm tính ổn định của bản án, quyết định của Tòa án và tránh việc cùng một vụ việc bị khởi kiện, xét xử nhiều lần. Điểm d Khoản 1 Điều 123 Luật tố tụng hành chính 2015 sửa đổi bổ sung 2025 quy định thẩm phán trả lại đơn khởi kiện trong trường hợp “sự việc đã được giải quyết bằng bản án hoặc quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật”.
Thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực
Để bảo đảm việc giải quyết đúng thẩm quyền trong tố tụng hành chính, pháp luật quy định rõ phạm vi thẩm quyền của từng cấp Tòa án. Việc xác định đúng Tòa án có thẩm quyền không chỉ giúp đơn khởi kiện được thụ lý nhanh chóng mà còn tránh tình trạng trả lại đơn hoặc kéo dài thời gian giải quyết vụ án. Theo quy định của Luật Tố tụng hành chính 2015 sửa đổi bổ sung 2025, Tòa án nhân dân khu vực có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm đối với nhiều loại khiếu kiện hành chính trong phạm vi lãnh thổ nhất định. Cụ thể, thẩm quyền của Tòa án nhân dân khu vực được xác định như sau:
quy định thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực
Thẩm quyền của Tòa chuyên trách Tòa án nhân dân khu vực
Bên cạnh việc xác định thẩm quyền của Tòa án theo cấp xét xử và theo lãnh thổ, pháp luật tố tụng hành chính còn quy định thẩm quyền giải quyết của các Tòa chuyên trách trong hệ thống Tòa án nhân dân. Việc phân định thẩm quyền giữa các Tòa chuyên trách nhằm bảo đảm quá trình giải quyết vụ án được thực hiện bởi cơ quan xét xử có chuyên môn phù hợp với tính chất của từng loại khiếu kiện. Theo quy định của Luật Tố tụng hành chính 2015 sửa đổi bổ sung 2025, Tòa Hành chính và Tòa Sở hữu trí tuệ thuộc Tòa án nhân dân khu vực có thẩm quyền giải quyết sơ thẩm đối với một số loại khiếu kiện hành chính nhất định. Cụ thể như sau:
quy định về Thẩm quyền của Tòa chuyên trách Tòa án nhân dân khu vực
Thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân cấp tỉnh
Tòa án cấp tỉnh có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục phúc thẩm những vụ án mà bản án, quyết định chưa có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhân dân khu vực bị kháng cáo, kháng nghị; giám đốc thẩm, tái thẩm bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhân dân khu vực nhưng bị kháng nghị theo quy định của Luật này.
Có thể thấy, việc khởi kiện vụ án hành chính không chỉ phụ thuộc vào việc cá nhân hoặc tổ chức bị ảnh hưởng bởi quyết định hành chính hay hành vi hành chính mà còn phải đáp ứng đầy đủ các điều kiện theo quy định của Luật Tố tụng hành chính 2015 sửa đổi bổ sung 2025. Các điều kiện này bao gồm quyền khởi kiện của chủ thể, xác định đúng đối tượng khởi kiện, bảo đảm thời hiệu khởi kiện và xác định đúng thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Việc nắm rõ các quy định pháp luật liên quan sẽ giúp cá nhân, tổ chức thực hiện quyền khởi kiện một cách đúng đắn, góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình cũng như bảo đảm tính minh bạch trong hoạt động quản lý hành chính nhà nước.