Bạn đang ở đây

Hợp đồng BCC

GIAO DỊCH CHUYỂN NHƯỢNG PHẦN VỐN GÓP/ CỔ PHẦN ĐƯỢC THỰC HIỆN BẰNG NGOẠI TỆ KHÔNG?

Thời gian đọc: 8 Phút
Trong bối cảnh Việt Nam kiểm soát chặt chẽ hoạt động sử dụng ngoại hối, việc các bên thỏa thuận định giá hoặc thanh toán giao dịch chuyển nhượng phần vốn góp/cổ phần bằng ngoại tệ vẫn diễn ra khá phổ biến. Tuy nhiên, sự khác biệt trong cách hiểu và áp dụng pháp luật giữa các cơ quan tài phán khiến không ít giao dịch đối mặt với rủi ro bị tuyên vô hiệu hoặc bị xử phạt hành chính. Bài viết dưới đây phân tích cơ sở pháp lý, hướng dẫn của Ngân hàng Nhà nước và các rủi ro thực tiễn nhằm giúp nhà đầu tư nhận diện đúng đồng tiền được phép sử dụng trong giao dịch chuyển nhượng vốn, từ đó hạn chế các hệ quả pháp lý không mong muốn.

1. Hạn chế sử dụng ngoại hối tại Việt Nam

Các giao dịch nói chung có sự tham gia của ngoại hối tiềm tàng nhiều rủi ro, đặc biệt là khả năng bị tuyên bố vô hiệu do không tuân thủ các quy định về hạn chế sử dụng ngoại hối. Năm 2013, Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh ngoại hối mở rộng hơn phạm vi hạn chế sử dụng ngoại hối. Cụ thẻ, Điều 22 Pháp lệnh ngoại hối 2005, được sửa đổi, bổ sung năm 2013 quy định:
Trên lãnh thổ Việt Nam, mọi giao dịch, thanh toán, niêm yết, quảng cáo, báo giá, định giá, ghi giá trong hợp đồng, thỏa thuận và các hình thức tương tự khác của người cư trú, người không cư trú không được thực hiện bằng ngoại hối, trừ các trường hợp được phép theo quy định của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.”

 Internet
Nguồn: Internet

Hoạt động “báo giá, định giá, ghi giá trong hợp đồng, thỏa thuận và các hình thức tương tự khác” được bổ sung càng làm thắt chặt hoạt động sử dụng ngoại hối tại Việt Nam.

2. Cơ sở xác định đồng tiền được phép sử dụng cho giao dịch chuyển nhượng phần vốn góp/ cổ phần.

Định hướng quản lý nhà nước về ngoại hối được triển  khai theo cơ chế:

  1. Quốc hội ban hành Pháp lệnh quy định chủ trương hạn chế sử dụng ngoại hối
  2. Ngân hàng nhà nước ban hành thông tư hướng dẫn nhằm quy định các trường hợp cụ thể được phép sử dụng ngoại hối.

Đối với riêng giao dịch hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam, Ngân hàng Nhà nước có Thông tư 06/2019/TT-NHNN (Thông tư 06). Theo đó, giao dịch chuyển nhượng vốn đầu tư và dự án đầu tư được xác định trên tình trạng cư trú của các bên tham gia giao dịch, quy định tại Điều 10 như sau:

  • Việc thanh toán giá trị chuyển nhượng cổ phần, phần vốn góp tại doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài quy định tại khoản 2 Điều 3 Thông tư 06 được thực hiện như sau:
  • Giữa các nhà đầu tư là người không cư trú hoặc giữa các nhà đầu tư là người cư trú không thực hiện thông qua tài khoản vốn đầu tư trực tiếp;
  • Giữa nhà đầu tư là người không cư trú và nhà đầu tư là người cư trú phải thực hiện thông qua tài khoản vốn đầu tư trực tiếp.
  • Việc thanh toán giá trị chuyển nhượng dự án đầu tư giữa các nhà đầu tư trong hợp đồng BCC, giữa các nhà đầu tư trực tiếp thực hiện dự án PPP được thực hiện như sau:
  • Giữa các nhà đầu tư là người không cư trú hoặc giữa nhà đầu tư là người không cư trú và nhà đầu tư là người cư trú trong hợp đồng BCC phải thực hiện thông qua tài khoản vốn đầu tư trực tiếp;
  • Giữa các nhà đầu tư là người không cư trú hoặc giữa nhà đầu tư là người không cư trú và nhà đầu tư là người cư trú trực tiếp thực hiện dự án PPP phải thực hiện thông qua tài khoản, vốn đầu tư trực tiếp.
  • Đồng tiền định giá, thanh toán, giá trị chuyển nhượng vốn đầu tư, dự án đầu tư trong hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam:
  • Việc định giá, thanh toán giá trị chuyển nhượng vốn đầu tư, dự án đầu tư giữa hai người không cư trú được phép thực hiện bằng ngoại tệ;
  • Việc định giá, thanh toán giá trị chuyển nhượng vốn đầu tư, dự án đầu tư giữa người cư trú và người không cư trú, giữa người cư trú với nhau phải thực hiện bằng đồng Việt Nam

3. Rủi ro khi sử dụng đồng ngoại tệ trong giao dịch chuyển nhượng phần vốn góp/ cổ phần

Mặc dù Ngân hàng Nhà nước đã có quy định rõ ràng về hạn chế sử dụng ngoại tệ trong việc chuyển nhượng phần vốn góp/cổ phần nhưng thực tế vấn xuất hiện rất nhiều trường hợp các bên trong giao dịch sử dụng đồng ngoại tệ nhằm định giá, thanh toán.

 Internet
Nguồn: Internet

4. Rủi ro về hiệu lực của hợp đồng sử dụng đồng ngoại tệ để định giá, thanh toán

Hiện cơ quan tài phán xuất hiện nhiều quan điểm khác nhau về hiệu lực của giao dịch sử dụng đồng ngoại tệ.

  • Trước khi BLDS 2015 ra đời, các giao dịch vi phạm Pháp lệnh ngoại hối có khả năng cao bị tuyên vô hiệu do “vi phạm điều cấm của pháp luật, trái đạo đức xá hội” tại Điều 128 BLDS 2005. Trong thực tiễn xét xử, Tòa án có xu hướng coi giao dịch chỉ sử dụng ngoại tệ để định giá, tính toán không vô hiệu; giao dịch sử dụng ngoại tệ thanh toán vô hiệu (vô hiệu một phần hoặc toàn bộ tùy quan điểm xét xử của Tòa án).
  • Sau khi BLDS 2015 có hiệu lực thi hành, Điều 123 quy định “Giao dịch dân sự có mục đích, nội dung vi phạm điều cầm của luật, trái đạo đức xã hội thì vô hiệu”. Vậy nên, theo lý thuyết, trên cơ sở quy định mới này, khi các bên trong giao dịch định giá, thanh toán bằng ngoại tệ thì chỉ vi phạm điều cấm của Pháp lệnh, chứ không vi phạm điều cấm của luật, vậy nên giao dịch không bị tuyên vô hiệu. Tuy nhiên, giao dịch dân sự sử dụng ngoại hối vẫn đứng trước nguy cơ bị tuyên vô hiệu theo 2 định hướng quan điểm sau:
  • Thứ nhất, cơ quan tài phán vẫn dẫn chiếu quy định tại Nghị quyết 04/2003/NQ- HĐTP để điều chỉnh các giao dịch có sử dụng ngoại hối. Cụ thể, Nghị quyết 04/2003/NQ- HĐTP tập trung tới yếu tố liệu các bên trong giao dịch có thực hiện thanh toán bằng ngoại tệ trên thực tế không để từ đó xác định hiệu lực của hợp đồng. Nếu trong các nội dung của hợp đồng có thỏa thuận giá cả, định giá, thanh toán bằng ngoại tệ nhưng sau đó các bên có thỏa thuận thanh toán bằng Đồng Việt Nam thì hợp đồng không bị coi là vô hiệu toàn bộ. Tuy nhiên, Nghị quyết 04/2003/NQ- HĐTP ngày 17/04/2003 thuộc danh sách văn bản hết hiệu lực tại Quyết định số 355/QĐ-TANDTC ngày 08/11/2021.
  • Thứ hai, cơ quan tài phán dẫn chiếu Điều 17, Điều 137 BLDS 2015 để tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu.

Như vậy, mặc dù BLDS 2015 đã có bước chuyển mình đáng kể bằng việc thay đổi “điều cấm của pháp luật” bằng “điều cấm của luật”, hợp đồng sử dụng ngoại tệ vẫn đứng trước nguy cơ bị tuyên bố vô hiệu bởi quan điểm của cơ quan tài phán.

5. Rủi ro xử phạt vi phạm hành chính do hợp dồng sử dụng đồng ngoại tệ để định giá, thanh toán

Điểm n khoản 4 Điều 23 Nghị định 88/2019/NĐ-CP quy định về mức phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng đối với hành vi giao dịch, báo giá, định giá, ghi giá trong hợp đồng, thỏa thuận, niêm yết, quảng cáo giá hàng hóa, dịch vụ, quyền sử dụng đất và các hình thức tương tự khác (bao gồm cả quy đổi hoặc điều chỉnh giá hàng hóa, dịch vụ, giá trị của hợp đồng, thỏa thuận) bằng ngoại tệ không đúng quy định của pháp luật.

Do đó, khi giao kết hợp đồng, các bên cần chú ý tuân thủ theo quy định của Pháp lệnh ngoại hối và Thông tư hướng dẫn của Ngân hàng nhà nước để đảm bảo giao dịch không đứng trước nguy cơ bị tuyên bố vô hiệu và bị xử phạt vi phạm hành chính.

Quy định về Hợp đồng BCC

Thời gian đọc: 5 Phút
Hợp đồng hợp tác kinh doanh (Hợp đồng BCC) là gì? Pháp luật quy định nội dung hợp đồng BCC như thế nào?

Xin chào Luật sư, Luật sư có thể tư vấn cho tôi về Hợp đồng BCC không? Xin cảm ơn Luật sư. 

Về khái niệm Hợp đồng hợp tác kinh doanh (Hay còn gọi là Hợp đồng BCC).

Tại khaonr 14 điều 3 Luật Đầu tư 2020 quy định về khái niệm Hợp đồng BCC như sau:

 Hợp đồng hợp tác kinh doanh (sau đây gọi là hợp đồng BCC) là hợp đồng được ký giữa các nhà đầu tư nhằm hợp tác kinh doanh, phân chia lợi nhuận, phân chia sản phẩm theo quy định của pháp luật mà không thành lập tổ chức kinh tế.

Đồng thời, theo quy định tại điểm 1.1 Điều 1 Điều 44 Thông tư 200/2014/TT-BTC hướng dẫn Chế độ kế toán Doanh nghiệp thì Hợp đồng BCC được hiểu là thỏa thuận bằng hợp đồng của hai hoặc nhiều bên để cùng thực hiện hoạt động kinh tế nhưng không hình thành pháp nhân độc lập. Hoạt động này có thể được đồng kiểm soát bởi các bên góp vốn theo thỏa thuận liên doanh hoặc kiểm soát bởi một trong số các bên tham gia. 

Việc hợp tác hai hoặc nhiều bên được thực hiện dưới nhiều hình thức nhưng chủ yếu các bên sẽ thực hiện dưới hình thức cùng nhau xây dựng tài sản hoặc hợp tác trong các hoạt động kinh doanh. Trong hợp đồng BCC các bên được quyền thỏa thuận chia doanh thu, chia sản phẩm hoặc chia lợi nhuận sau thuế. 

Với hợp đồng BCC các bên trên cở sở thống nhất sẽ lập một ban điều phối để thực hiện hiện nội dung trong Hợp đồng. Điều này được quy định tại khoản 3 Điều 27 Luật Đầu tư năm 2020: “Các bên tham gia hợp đồng BCC thành lập ban điều phối để thực hiện hợp đồng BCC. Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của ban điều phối do các bên thỏa thuận.”

Về chủ thể tham gia hợp đồng BCC.

Căn cứ khoản 1, khoản 2 Điều 27 Luật Đầu tư năm 2020 quy định: 

Điều 27. Đầu tư theo hình thức hợp đồng BCC

1. Hợp đồng BCC được ký kết giữa các nhà đầu tư trong nước thực hiện theo quy định của pháp luật về dân sự.

2. Hợp đồng BCC được ký kết giữa nhà đầu tư trong nước với nhà đầu tư nước ngoài hoặc giữa các nhà đầu tư nước ngoài thực hiện thủ tục cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư theo quy định tại Điều 38 của Luật này.

Trong hợp đồng BCC các bên được quyền thỏa thuận chia doanh thu, chia sản phẩm hoặc chia lợi nhuận sau thuế. Ảnh minh họa: Internet. 

Về nội dung trong Hợp đồng BCC. 

Theo quy định tại Điều 28 Luật Đầu tư quy định như sau: 

Điều 28. Nội dung hợp đồng BCC

1. Hợp đồng BCC bao gồm các nội dung chủ yếu sau đây:

a) Tên, địa chỉ, người đại diện có thẩm quyền của các bên tham gia hợp đồng; địa chỉ giao dịch hoặc địa điểm thực hiện dự án đầu tư;

b) Mục tiêu và phạm vi hoạt động đầu tư kinh doanh;

c) Đóng góp của các bên tham gia hợp đồng và phân chia kết quả đầu tư kinh doanh giữa các bên;

d) Tiến độ và thời hạn thực hiện hợp đồng;

đ) Quyền, nghĩa vụ của các bên tham gia hợp đồng;

e) Sửa đổi, chuyển nhượng, chấm dứt hợp đồng;

g) Trách nhiệm do vi phạm hợp đồng, phương thức giải quyết tranh chấp.

2. Trong quá trình thực hiện hợp đồng BCC, các bên tham gia hợp đồng được thỏa thuận sử dụng tài sản hình thành từ việc hợp tác kinh doanh để thành lập doanh nghiệp theo quy định của pháp luật về doanh nghiệp.

3. Các bên tham gia hợp đồng BCC có quyền thỏa thuận những nội dung khác không trái với quy định của pháp luật.

Trên đây là nội dung tư vấn của Hongbach.vn liên quan đến vấn đề pháp lý bạn đang vướng mắc, nếu còn những vấn đề chưa rõ thì bạn có thể phản hồi cho chúng tôi qua địa chỉ: 

Công ty Luật TNHH Hồng Bách và Cộng sự 
Trụ sở: Số 85 Nguyễn Chí Thanh, phường Láng Hạ, quận Đống Đa, Hà Nội
Điện thoại: 024.6299.6666; Fax: 024.62.55.88.66
Web: hongbach.vn; Email: bach@hongbach.vn