Bạn đang ở đây

hộ kinh doanh

NHỮNG ĐIỂM ĐÁNG CHÚ Ý CỦA LUẬT BẢO VỆ DỮ LIỆU CÁ NHÂN 2025

Thời gian đọc: 12 Phút
Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân 2025 (Luật BVDLCN 2025) được Quốc hội thông qua ngày 26/6/2025 và chính thức có hiệu lực kể từ ngày 01/01/2026. Luật BVDLCN 2025 đã bổ sung những quy định mới có tác động tích cực đến hoạt động xử lý dữ liệu cá nhân nhưng cũng đồng thời đặt các doanh nghiệp/tổ chức/cá nhân trước rủi ro bị xử phạt do không tuân thủ theo quy định của pháp luật. Kế thừa Nghị định 13/2023/NĐ-CP, Luật BVDLCN 2025 bao gồm một số điểm đáng chú ý sau đây:

Phạm vi áp dụng rõ ràng hơn

So với Nghị Định 13/20/23/NĐ-CP, Luật BVDLCN 2025 quy định rõ ràng hơn về phạm vi áp dụng đối với các tổ chức, cơ quan và cá nhân nước ngoài. Cụ thể, đối với các tổ chức, cơ quan và cá nhân nước ngoài không hiện diện tại Việt Nam, Luật BVDLCN 2025 chỉ áp dụng khi các tổ chức, cơ quan và cá nhân này trực tiếp xử lý hoặc tham gia vào hoạt động xử lý DLCN của công dân Việt Nam hoặc người gốc Việt Nam chưa xác định được quốc tịch đang sinh sống tại Việt Nam đã được cấp giấy chứng nhận căn cước (Điểm c khoản 2 Điều 1 Luật BVDLCN 2025).

Xử lý vi phạm pháp luật về bảo vệ dữ liệu cá nhân

Tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm quy định có liên quan đến bảo vệ DLCN có thể bị xử phạt hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự; nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật (Khoản 1 Điều 8 Luật BVDLCN 2025). Trong đó, đối với hình thức xử phạt vi phạm hành chính, Luật BVDLCN 2025 phân loại mức phạt theo một số hành vi cụ thể như sau (Điều 8 Luật BVDLCN 2025):

  • Mức phạt tiền tối đa trong xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi mua, bán DLCN là 10 lần khoản thu có được từ hành vi vi phạm; trường hợp không có khoản thu từ hành vi vi phạm hoặc mức phạt tính theo khoản thu có được từ hành vi vi phạm thấp hơn 03 tỷ đồng thì áp dụng mức phạt tiền 03 tỷ đồng.
  • Mức phạt tiền tối đa trong xử phạt vi phạm hành chính đối với tổ chức có hành vi vi phạm quy định chuyển DLCN xuyên biên giới là 5% doanh thu của năm trước liền kề của tổ chức đó; trường hợp không có doanh thu của năm trước liền kề hoặc mức phạt tính theo doanh thu thấp hơn 03 tỷ đồng thì áp dụng mức phạt tiền 03 tỷ đồng.
  • Mức phạt tiền tối đa trong xử phạt vi phạm hành chính đối với các hành vi vi phạm khác trong lĩnh vực bảo vệ DLCN là 03 tỷ đồng.

Phân loại dữ liệu cá nhân cơ bản và dữ liệu cá nhân nhạy cảm

Kế thừa quy định Nghị định 13/2023/NĐ-CP, Luật BVDLCN 2025 cũng phân loại DLCN thành 2 nhóm, bao gồm: (i) DLCN cơ bản và (ii) DLCN nhạy cảm. Tuy nhiên, danh mục dữ liệu tại 2 mục này không được quy định chi tiết trong Luật BVDLCN 2025 mà sẽ “thuộc danh mục do Chính phủ ban hành”.

Sự đồng ý của chủ thể dữ liệu cá nhân

            Sự đồng ý của chủ thể dữ liệu cá nhân là việc chủ thể dữ liệu cá nhân cho phép xử lý dữ liệu cá nhân của mình, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác (Khoản 1 Điều 9 Luật BVDLCN 2025). Trong đó, Luật BVDLCN bổ sung các điều kiện nghiêm ngặt để sự đồng ý có hiệu lực pháp luật, bao gồm: (i) dựa trên sự tự nguyện; (ii) biết rõ loại dữ liệu cá nhân được xử lý, mục đích xử lý dữ liệu cá nhân; bên kiểm soát dữ liệu cá nhân hoặc bên kiểm soát và xử lý dữ liệu cá nhân; các quyền, nghĩa vụ của chủ thể dữ liệu cá nhân.

            Sự đồng ý của chủ thể dữ liệu cá nhân phải được thể hiện bằng phương thức rõ ràng, cụ thể, có thể in, sao chép bằng văn bản. Sự đồng ý phải được thể hiện đồng ý đối với từng mục đích, không được kèm theo điều kiện bắt buộc phải đồng ý với các mục đích khác, và đáng chú ý Luật BVDLCN có nêu rõ sự im lặng hoặc không phản hồi không được coi là sự đồng ý.

Xử lý dữ liệu cá nhân trong trường hợp không cần sự đồng ý của chủ thể dữ liệu cá nhân

Luật BVDLCN 2025 quy định các trường hợp được phép xử lý DLCN mà không cần sự đồng ý của chủ thể dữ liệu cá nhân, đồng thời quy định nghĩa vụ thiết lập cơ chế giám sát khi xử lý dữ liệu cá nhân của các cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan (Điều 19 Luật BVDLCN 2025).

Chuyển giao dữ liệu cá nhân

Luật BVDLCN 2025 quy định các trường hợp cụ thể được phép chuyển giao DLCN (Điều 17 Luật BVDLCN 2025), bao gồm:

  • Khi có sự đồng ý của chủ thể DLCN;
  • Chia sẻ DLCN giữa các bộ phận trong cùng một cơ quan, tổ chức để xử lý DLCN phù hợp với mục đích xử lý đã xác lập;
  • Chuyển giao DLCN để tiếp tục xử lý DLCN trong trường hợp chia, tách, sáp nhập cơ quan, tổ chức, đơn vị hành chính và tổ chức lại, chuyển đổi hình thức sở hữu doanh nghiệp nhà nước; chia, tách, sáp nhập, hợp nhất, kết thúc hoạt động đơn vị, tổ chức; đơn vị, tổ chức được thành lập trên cơ sở kết thúc hoạt động của đơn vị, tổ chức khác;
  • Bên kiểm soát DLCN, bên kiểm soát và xử lý DLCN chuyển giao DLCN cho bên xử lý DLCN, bên thứ ba để xử lý DLCN theo quy định;
  • Chuyển giao DLCN theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền;
  • Chuyển giao DLCN trong các trường hợp không cần sự đồng ý của chủ thể DLCN.

Chuyển dữ liệu cá nhân xuyên biên giới

Luật BVDLCN 2025 quy định 3 trường hợp được phép chuyển DLCN xuyên biên giới (Khoản 1 Điều 20 Luật BVDLCN 2025), bao gồm:

- Chuyển DLCN đang lưu trữ tại Việt Nam đến hệ thống lưu trữ dữ liệu đặt ngoài lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam;

- Cơ quan, tổ chức, cá nhân tại Việt Nam chuyển DLCN cho tổ chức, cá nhân ở nước ngoài;

- Cơ quan, tổ chức, cá nhân tại Việt Nam hoặc ở nước ngoài sử dụng nền tảng ở ngoài lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam để xử lý DLCN được thu thập tại Việt Nam.

Khi chuyển DLCN xuyên biên giới, cơ quan, tổ chức, cá nhân phải lập hồ sơ đánh giá tác động chuyển DLCN xuyên biên giới và gửi 01 bản chính cho cơ quan chuyên trách bảo vệ DLCN trong thời gian 60 ngày kể từ ngày đầu tiên chuyển DLCN xuyên biên giới, trừ trường hợp quy định tại khoản 6 Điều 20 Luật BVDLCN 2025. Việc đánh giá được thực hiện 1 lần cho suốt thời gian hoạt động, và cập nhật đánh giá theo quy định tại Điều 22 Luật BVDLCN 2025 (Khoản 3 Điều 30 Luật BVDLCN 2025).

Nghĩa vụ đánh giá tác động xử lý dữ liệu cá nhân

Luật BVDLCN 2025 đặt ra nghĩa vụ đánh giá tác động xử lý dữ liệu cá nhân đối với bên kiểm soát dữ liệu cá nhân, bên kiểm soát và xử lý dữ liệu cá nhân. Việc đánh giá được thực hiện 1 lần cho suốt thời gian hoạt động của bên kiểm soát dữ liệu cá nhân, bên kiểm soát và xử lý dữ liệu cá nhân, và cập nhật đánh giá theo quy định tại Điều 22 Luật BVDLCN 2025 (Điều 21, Điều 22 Luật BVDLCN 2025).

Bảo vệ dữ liệu cá nhân trong lao động, thông tin sức khoẻ, bảo hiểm, tài chính ngân hàng,…

Luật BVDLCN 2025 đưa ra những quy định điều chỉnh chi tiết trong một số lĩnh vực quan trọng như quản lý lao động, bảo hiểm, tài chính ngân hàng, tín dụng, quảng cáo, … Đáng chú ý là yêu cầu trong các lĩnh vực sau:

  • Về tuyển dụng, quản lý, sử dụng người lao động (Điều 25 Luật BVDLCN 2025): Trong tuyển dụng, người sử dụng lao động (NSDLĐ) chỉ được yêu cầu cung cấp các thông tin phục vụ cho mục đích tuyển dụng và mục đích khác theo thỏa thuận phù hợp với quy định của pháp luật; đồng thời NSDLĐ phải xóa, hủy thông tin đã cung cấp của người dự tuyển trong trường hợp không tuyển dụng, trừ trường hợp có thỏa thuận khác với người đã dự tuyển. Trong quản lý người lao động (NLĐ), dữ liệu cá nhân của NLĐ phải lưu trữ trong thời hạn theo quy định của pháp luật hoặc theo thỏa thuận; phải xóa, hủy dữ liệu cá nhân của NLĐ khi chấm dứt hợp đồng, trừ trường hợp theo thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định khác.
  • Về thông tin sức khỏe và trong hoạt động kinh doanh bảo hiểm (Điều 26 Luật BVDLCN 2025): Phải có sự đồng ý của chủ thể dữ liệu cá nhân trong quá trình thu thập, xử lý dữ liệu cá nhân, trừ trường hợp xử lý dữ liệu cá nhân không cần sự đồng ý của chủ thể dữ liệu cá nhân. Đặc biệt, Luật BVDLCN 2025 cũng nêu rõ cơ quan, tổ chức, cá nhân hoạt động trong lĩnh vực sức khỏe không cung cấp dữ liệu cá nhân cho bên thứ ba là tổ chức cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe hoặc dịch vụ bảo hiểm sức khỏe, bảo hiểm nhân thọ, trừ trường hợp có yêu cầu bằng văn bản của chủ thể dữ liệu cá nhân hoặc trường hợp xử lý dữ liệu cá nhân không cần sự đồng ý của chủ thể dữ liệu cá nhân.
  • Về hoạt động tài chính, ngân hàng, hoạt động thông tin tín dụng (Điều 27 Luật BVDLCN 2025): Các tổ chức, cá nhân hoạt động trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng, tín dụng phải tuân thủ một số nội dung sau: (i) không được phép sử dụng thông tin tín dụng của chủ thể dữ liệu cá nhân để chấm điểm, xếp hạng tín dụng, đánh giá thông tin tín dụng, đánh giá mức độ tín nhiệm về tín dụng của chủ thể dữ liệu cá nhân khi chưa có sự đồng ý của chủ thể dữ liệu cá nhân; (ii) chỉ thu thập những dữ liệu cá nhân cần thiết phục vụ cho hoạt động thông tin tín dụng; (iii) phải thông báo cho chủ thể dữ liệu cá nhân trong trường hợp lộ, mất thông tin về tài khoản ngân hàng, tài chính, tín dụng, thông tin tín dụng,…

Cơ quan, tổ chức phải có nhân sự thực hiện nhiệm vụ bảo vệ dữ liệu cá nhân

Luật BVDLCN 2025 liệt kê rõ các bộ phận, cơ quan, tổ chức có nhiệm vụ bảo vệ dữ liệu cá nhân. Trong đó, luật đặt ra yêu cầu cơ quan, tổ chức có trách nhiệm chỉ định bộ phận, nhân sự đủ điều kiện năng lực bảo vệ dữ liệu cá nhân hoặc thuê tổ chức, cá nhân cung cấp dịch vụ bảo vệ dữ liệu cá nhân (Khoản 2 Điều 33 Luật BVDLCN 2025). Điều kiện, nhiệm vụ cụ thể của bộ phận, nhân sự thực hiện bảo vệ dữ liệu cá nhân do Chính phủ quy định.

Doanh nghiệp nhỏ, doanh nghiệp khởi nghiệp phải thực hiện Đánh giá tác động xử lý dữ liệu cá nhân, và có bộ phận, nhân sự đủ điều kiện năng lực bảo vệ dữ liệu cá nhân

Theo khoản 2 Điều 38 Luật BVDLCN 2025, doanh nghiệp nhỏ và doanh nghiệp khởi nghiệp được quyền miễn trừ nghĩa vụ đánh giá tác động xử lý dữ liệu cá nhân và có bộ phận, nhân sự đủ điều kiện năng lực bảo vệ dữ liệu cá nhân trong thời gian 05 năm kể từ ngày 01/01/2026. Hết thời hạn 5 năm, các doanh nghiệp này phải tuân thủ các nghĩa vụ theo đúng quy định của pháp luật.

Ngược lại, hộ kinh doanh, doanh nghiệp siêu nhỏ sẽ được miễn trừ các nghĩa vụ này, trừ hộ kinh doanh, doanh nghiệp siêu nhỏ kinh doanh dịch vụ xử lý dữ liệu cá nhân, trực tiếp xử lý dữ liệu cá nhân nhạy cảm hoặc xử lý dữ liệu cá nhân của số lượng lớn chủ thể dữ liệu cá nhân.

Hỗ trợ doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ kinh doanh trong bối cảnh dịch COVID-19

Thời gian đọc: 9 Phút
Chính phủ ban hành Nghị quyết 105/NQ-CP ngày 09/9/2021 về hỗ trợ doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ kinh doanh trong bối cảnh dịch COVID-19.

Theo Nghị quyết, để hỗ trợ cắt giảm chi phí, tháo gỡ khó khăn về tài chính, dòng tiền cho doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ kinh doanh, Chính phủ giao Bộ LĐTB&XH:


a) Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội:
- Chủ trì, phối hợp với các Bộ, cơ quan khẩn trương trình cấp có thẩm quyền và Ủy ban Thường vụ Quốc hội về việc ban hành chính sách liên quan đến giảm mức đóng hoặc hỗ trợ từ kết dư quỹ bảo hiểm xã hội ngắn hạn nhằm kịp thời hỗ trợ cho người lao động, doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ kinh doanh và các đối tượng sử dụng lao động khác, hoàn thành trong tháng 9 năm 2021.
- Chỉ đạo, hướng dẫn Bảo hiểm xã hội Việt Nam nghiên cứu, đề xuất miễn tiền phạt chậm nộp bảo hiểm xã hội phát sinh trong năm 2020 và năm 2021 theo quy định, hoàn thành trong tháng 9 năm 2021.
b) Bộ Giao thông vận tải:
- Trong tháng 9 năm 2021, chủ trì, phối hợp với các bộ, cơ quan có liên quan xem xét quyết định theo thẩm quyền hoặc đề nghị cấp có thẩm quyền quyết định chính sách giá dịch vụ liên quan đến hoạt động hàng không nhằm hỗ trợ các hãng hàng không trong giai đoạn đang bị tác động tiêu cực của dịch COVID-19.
- Yêu cầu các doanh nghiệp vận tải biển niêm yết công khai, minh bạch về giá cước vận tải biển; tăng cường các biện pháp quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp vận tải biển, chống tình trạng lợi dụng tình hình dịch COVID-19 để tăng giá cước vận tải bất hợp lý, tăng gánh nặng chi phí cho doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ kinh doanh; đồng thời, phối hợp với Bộ Công Thương, các hiệp hội, đơn vị liên quan nâng cao năng lực đàm phán, công khai, minh bạch về giá cước và phụ thu ngoài giá cước dịch vụ vận chuyển hàng hoá bằng đường biển.
c) Bộ Công Thương chủ trì, phối hợp với Bộ Tài chính và các cơ quan liên quan khẩn trương tổ chức triển khai thực hiện Nghị quyết số 97/NQ-CP ngày 28 tháng 8 năm 2021 của Chính phủ về phương án hỗ trợ giảm tiền điện, giảm giá điện (đợt 5) cho các khách hàng sử dụng điện theo đúng trình tự, thủ tục và quy định pháp luật; bảo đảm chặt chẽ, đúng đối tượng, không để bị trục lợi chính sách.
d) Bộ Tài chính:
- Khẩn trương triển khai các chính sách về giãn, giảm thuế, phí, lệ phí và tiền thuê đất sau khi được cấp có thẩm quyền ban hành; triển khai chính sách thuế ưu đãi đối với hàng hóa nhập khẩu để tài trợ phục vụ phòng, chống dịch COVID-19 sau khi được Chính phủ thông qua.
- Xem xét, nghiên cứu trình Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ tiếp tục gia hạn thời hạn nộp thuế tiêu thụ đặc biệt đối với ô tô sản xuất, lắp ráp trong nước đến hết năm 2021; nghiên cứu, đánh giá tác động để xem xét việc giảm lệ phí trước bạ đối với ô tô sản xuất, lắp ráp trong nước theo thời gian phù hợp với tình hình dịch COVID-19.
đ) Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch chủ trì, phối hợp với Bộ Tư pháp và các bộ, cơ quan liên quan sớm cho phép doanh nghiệp dịch vụ lữ hành được giảm 80% tiền ký quỹ kinh doanh dịch vụ lữ hành đến hết năm 2023, giảm thời gian giải quyết hoàn trả tiền ký quỹ kinh doanh dịch vụ lữ hành từ 60 ngày xuống còn 30 ngày.
e) Bộ Tài nguyên và Môi trường:
- Chủ trì, phối hợp với Bộ Tài chính, Bộ Tư pháp báo cáo Chính phủ trong tháng 9 năm 2021 về việc gia hạn nộp tiền cấp quyền khai thác khoáng sản đối với các doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ kinh doanh đang khai thác khoáng sản theo quy định của pháp luật về quản lý thuế.
- Báo cáo Chính phủ trong tháng 9 năm 2021 về việc áp dụng hậu kiểm đối với các thủ tục hành chính, cấp phép trong lĩnh vực môi trường trong thời gian dịch COVID-19, cho phép thực hiện cấp phép trên cơ sở xem xét hồ sơ và ý kiến đồng thuận của cơ quan quản lý chuyên môn tại địa phương mà không phải tổ chức kiểm tra, khảo sát thực tế tại các cơ sở, doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ kinh doanh. Việc kiểm tra sẽ được thực hiện sau khi các địa phương kiểm soát được dịch bệnh; thực hiện thu hồi ngay giấy phép đối với trường hợp doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ kinh doanh vi phạm quy định pháp luật.
g) Bộ Tư pháp chủ trì, phối hợp với các bộ, cơ quan, địa phương tăng cường triển khai các giải pháp hỗ trợ pháp lý, trong đó có giải quyết tranh chấp trong hoạt động sản xuất, kinh doanh theo quy định của pháp luật.
h) Ngân hàng Nhà nước Việt Nam:
- Tiếp tục điều hành chủ động, linh hoạt chính sách tiền tệ, gắn kết chặt chẽ với chính sách tài khóa và các chính sách vĩ mô khác nhằm kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, hỗ trợ tăng trưởng, góp phần thúc đẩy phục hồi và phát triển sản xuất, kinh doanh; khuyến khích tổ chức tín dụng tiết giảm chi phí để tiếp tục giảm lãi suất cho vay đối với các khoản vay hiện hữu và khoản vay mới nhằm hỗ trợ sản xuất, kinh doanh.
- Khẩn trương nghiên cứu sửa đổi, bổ sung chính sách quy định về cơ cấu lại thời hạn trả nợ, miễn, giảm lãi phí, giữ nguyên nhóm nợ đối với khách hàng bị ảnh hưởng bởi dịch COVID-19 theo hướng mở rộng đối tượng, phạm vi, thời gian được áp dụng chính sách cho phù hợp với diễn biến thực tế của dịch bệnh, hoàn thành trong tháng 9 năm 2021.
- Trong tháng 9 năm 2021, chủ trì phối hợp với các Bộ, cơ quan có liên quan xem xét, quyết định theo thẩm quyền hoặc đề nghị cấp có thẩm quyền quyết định các cơ chế về hỗ trợ tín dụng giúp các hãng hàng không giải quyết thanh khoản, đảm bảo nguồn lực để duy trì và phát triển.
i) Đề nghị Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam:
- Xem xét miễn nộp đoàn phí công đoàn cho đoàn viên tại doanh nghiệp, hợp tác xã bị ảnh hưởng bởi dịch COVID-19 trong năm 2021 và 2022 để người lao động có thêm điều kiện khắc phục khó khăn, gắn bó với doanh nghiệp, hợp tác xã.
- Báo cáo Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho phép doanh nghiệp, hợp tác xã bị ảnh hưởng bởi dịch COVID-19 được giảm đóng kinh phí công đoàn trong năm 2021 và 2022 theo trình tự, thủ tục rút gọn.
- Trong quá trình sửa đổi Luật Công đoàn, nghiên cứu, đánh giá tác động để xem xét giảm mức đóng kinh phí công đoàn.
- Đề xuất bổ sung các giải pháp thiết thực để hỗ trợ người lao động, chia sẻ, đồng hành với doanh nghiệp, hợp tác xã vượt qua khó khăn do dịch COVID-19
k) Các địa phương:
- Căn cứ khả năng cân đối của ngân sách địa phương và nguồn huy động đóng góp tự nguyện của các tổ chức, cá nhân cho phòng, chống dịch COVID-19, quyết định việc hỗ trợ một phần hoặc toàn bộ chi phí xét nghiệm COVID-19 cho người lao động tại các doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ kinh doanh đóng trên địa bàn thông qua các cơ sở xét nghiệm.
- Xem xét giảm mức phí sử dụng công trình kết cấu hạ tầng, công trình dịch vụ, tiện ích công cộng trong khu vực cửa khẩu, cảng biển loại I và IA trên địa bàn cho các doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ kinh doanh có hoạt động xuất, nhập khẩu theo tình hình thực tế của dịch COVID-19 và lùi thời gian bắt đầu thu phí tại khu vực cửa khẩu và cảng biển nêu trên đối với địa phương chưa thực hiện thu phí để hỗ trợ giảm chi phí cho doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ kinh doanh.
Nghị quyết 105/NQ-CP có hiệu lực từ ngày 09/9/2021

Công ty Luật TNHH Hồng Bách và Cộng sự
Trụ sở: Phòng 403, tầng 4, số 85 Nguyễn Chí Thanh, phường Láng Hạ, quận Đống Đa, thành phố Hà Nội
Điện thoại: 024.6299.6666; Email: bach@hongbach.vn

Xem chi tiết và tải Nghị quyết 105/NQ-CP tại đây:
 

Tệp đính kèm: