1. Về thủ tục chấp thuận chủ trương đầu tư
a. Bãi bỏ thủ tục chấp thuận chủ trương đầu tư ra nước ngoài
Luật Đầu tư 2025 bãi bỏ thủ tục xin chấp thuận chủ trương đầu tư ra nước ngoài, đồng thời thu hẹp phạm vi phải xin cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư ra nước ngoài theo hướng chỉ áp dụng đối với dự án có mức vốn đầu tư ra nước ngoài theo quy định của Chính phủ hoặc dự án đầu tư có lĩnh vực thuộc ngành, nghề đầu tư ra nước ngoài có điều kiện; dự án gắn với quốc phòng, an ninh triển khai theo thỏa thuận giữa Chính phủ Việt Nam và Chính phủ các nước; và dự án của các tập đoàn, tổng công ty nhà nước và tổ chức kinh tế khác theo quy định của Chính phủ.
Đối với dự án đầu tư ra nước ngoài có quy mô vốn lớn hoặc dự án đề xuất áp dụng cơ chế chính sách hỗ trợ đặc biệt, Bộ Tài chính báo cáo Thủ tướng Chính phủ xem xét, chấp thuận trước khi cấp, điều chỉnh Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư ra nước ngoài theo Khoản 2 Điều 42 Luật Đầu tư 2025.
Đối với các dự án còn lại, nhà đầu tư chỉ cần thực hiện thủ tục đăng ký giao dịch ngoại hối theo quy định của pháp luật về quản lý ngoại hối mà không phải thực hiện thủ tục cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư ra nước ngoài theo Khoản 3 Điều 42 Luật Đầu tư 2025.
b.Thu hẹp và làm rõ phạm vi dự án phải thực hiện chấp thuận chủ trương đầu tư
Luật Đầu tư 2025 đã rút gọn đáng kể phạm vi các dự án phải thực hiện chấp thuận chủ trương. Theo đó, các dự án phải thực hiện chấp thuận chủ trương đầu tư bao gồm các dự án đề xuất sử dụng đất đai, dự án đầu tư phát triển hạ tầng trong một số lĩnh vực quan trọng, nhạy cảm như nhà máy điện hạt nhân, cảng biển, sân bay, viễn thông, xuất bản, báo chí…; dự án đề nghị giao khu vực biển; dự án xây dựng nhà ở, khu đô thị, sân golf; các dự án ảnh hưởng lớn đến môi trường, tiềm ẩn khả năng ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường hoặc thực hiện tại khu vực có ảnh hưởng đến quốc phòng, an ninh;…
Luật Đầu tư 2025 quy định rõ các dự án ngoại lệ không thực hiện thủ tục chấp thuận chủ trương đầu tư trong trường hợp bao gồm dự án đầu tư của cá nhân không thuộc diện phải có văn bản chấp thuận của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trước khi được quyết định cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng theo quy định của pháp luật về đất đai; dự án đầu tư xây dựng hạ tầng kỹ thuật cụm công nghiệp; dự án khai thác khoáng sản thuộc diện đấu giá quyền khai thác khoáng sản; dự án khai thác khoáng sản để phục vụ cho các dự án, công trình, hạng mục công trình, thực hiện các biện pháp huy động khẩn cấp theo quy định của Luật Địa chất và khoáng sản Khoản 8 Điều 24 Luật Đầu tư 2025.
Bên cạnh đó, Luật Đầu tư 2025 đã thay đổi kĩ thuật lập pháp so với Luật Đầu tư 2020 khi dành riêng Điều 24 để liệt kê các nhóm dự án phải thực hiện thủ tục chấp thuận chủ trương đầu tư, đồng thời Điều 25 quy định thẩm quyền chấp thuận đối với các dự án tương ứng. Hướng soạn thảo mới giúp công dân tra cứu thuận tiện và dễ dàng hơn, giảm thiểu trường hợp bỏ sót quy định.
c. Thẩm quyền chấp thuận chủ trương đầu tư được nới lỏng
Trên tinh thần tiếp tục đẩy mạnh phân cấp, phân quyền chấp thuận chủ trương đầu tư, Quốc hội chỉ chấp thuận chủ trương đối với dự án đầu tư có yêu cầu áp dụng cơ chế, chính sách đặc biệt theo Khoản 1 Điều 25 Luật Đầu tư 2025, đồng thời phân cấp toàn bộ dự án thuộc thẩm quyền chấp thuận chủ trương đầu tư của Quốc hội cho Thủ tướng Chính phủ để đẩy nhanh quá trình thực hiện thủ tục. Chủ tịch UBND cấp tỉnh (thay cho UBND cấp tỉnh theo Luật đầu tư 2020) chấp thuận các dự án đầu tư còn lại theo Khoản 3 Điều 25 Luật Đầu tư 2025.
2. Về thủ tục đầu tư đặc biệt
Kế thừa quy định tại Điều 36a Luật Đầu tư 2020, Điều 28 Luật Đầu tư 2025 mở rộng đối tượng áp dụng thủ tục đầu tư đặc biệt, đồng thời giữ nguyên cơ chế áp dụng như không phải thực hiện thủ tục chấp thuận chủ trương đầu tư, thẩm định công nghệ, lập báo cáo đánh giá tác động môi trường, lập quy hoạch chi tiết, cấp Giấy phép xây dựng và các thủ tục để được phê duyệt, chấp thuận, cho phép trong lĩnh vực xây dựng, phòng cháy, chữa cháy theo Khoản 2 Điều 28 Luật Đầu tư 2025. Thủ tục đầu tư đặc biệt áp dụng cho dự án đầu tư tại khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, khu công nghệ số tập trung, khu thương mại tự do, trung tâm tài chính quốc tế và khu chức năng trong khu kinh tế, trừ dự án phải chấp thuận chủ trương đầu tư theo quy định của Chính phủ.
3. Về thủ tục thành lập tổ chức kinh tế của nhà đầu tư nước ngoài
4. Về ngành, nghề cấm đầu tư kinh doanh, ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện, điều kiện đầu tư kinh doanh
Luật Đầu tư 2025 cắt giảm mạnh danh mục ngành, nghề kinh doanh có điều kiện. Theo đó Chính phủ đã xoá bỏ 38 ngành, nghề kinh doanh có điều kiện và điều chỉnh phạm vi 20 ngành nghề (Phụ lục IV Luật Đầu tư 2025), giúp giảm gánh nặng thủ tục tiền kiểm, đẩy mạnh hoạt động kinh doanh trên cơ sở tăng cường cơ chế quản lý hậu kiểm.
Đồng thời, Phụ lục IV bổ sung quy định cấm đầu tư kinh doanh đối với ngành, nghề “kinh doanh thuốc lá điện tử, thuốc lá nung nóng” theo điểm 1 Khoản 1 Điều 6 Luật Đầu tư 2025 để phù hợp với Nghị quyết số 173/2024/QH15 ngày 30/11/2024 của Quốc hội.
5. Về ngành, nghề ưu đãi đầu tư, địa bàn ưu đãi đầu tư, chính sách ưu đãi, hỗ trợ đầu tư đặc biệt
Luật Đầu tư 2025 sửa đổi, bổ sung quy định về ngành, nghề ưu đãi đầu tư theo hướng không liệt kê cụ thể ngành, nghề ưu đãi đầu tư mà quy định nguyên tắc xác định ngành, nghề ưu đãi đầu tư theo Khoản 1 Điều 15 Luật Đầu tư 2025. Cách tiếp cận linh hoạt này trao quyền chủ động cho Chính phủ xác định ngành, nghề ưu đãi đầu tư phù hợp với từng thời kỳ phát triển của đất nước.
Về ưu đãi đầu tư đặc biệt, quy mô vốn đầu tư và tiến độ giải ngân của dự án thuộc đối tượng ưu đãi đầu tư đặc biệt cũng được loại bỏ tại Luật Đầu tư 2025, đồng thời giao Chính phủ quy định cụ thể phù hợp với tính chất đặc thù của từng ngành, lĩnh vực.
6. Về thủ tục điều chỉnh dự án đầu tư, triển khai thực hiện dự án đầu tư
Luật Đầu tư 2025 đã thu hẹp các trường hợp phải điều chỉnh dự án đầu tư, bổ sung trường hợp không phải ký quỹ bảo đảm thực hiện dự án đầu tư và mở rộng hơn quyền của nhà đầu tư khi điều chỉnh thời hạn hoạt động của dự án đầu tư. Nội dung này sẽ được Luật Hồng Bách cập nhật chi tiết ở bài viết tiếp theo.
Từ các sửa đổi nêu trên, có thể thấy Luật Đầu tư 2025 đã có bước điều chỉnh đáng kể theo hướng cởi mở và linh hoạt hơn trong quản lý đầu tư. Việc giảm bớt cơ chế tiền kiểm, đồng thời tăng cường hậu kiểm, được kỳ vọng sẽ góp phần tạo lập môi trường đầu tư minh bạch, thuận lợi hơn, qua đó khơi thông nguồn lực và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế – xã hội trong giai đoạn tới.